Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Tại sao lại có hai con số tăng trưởng tín dụng?

Trả lời trong phiên thảo luận tại Quốc hội tuần trước thống đốc NHNN tiết lộ rằng tăng trưởng tín dụng trong 10 tháng đầu năm 2013 đạt 6,8%, tuy nhiên nếu tính cả trích lập dự phòng nợ xấu và bán nợ xấu qua VAMC thì con số này là 7,89%. Tôi tạm gọi hai cách tính cho ra hai con số khác nhau này lần lượt là cách tính (1) và cách tính (2). Vậy chúng khác nhau ở chỗ nào?

Trước tiên, cần hiểu rằng cả hai con số tăng trưởng tín dụng trên đều được tính bằng % tăng thêm của giá trị các khoản cho vay ra nền kinh tế từ các tổ chức tín dụng tại thời điểm cuối tháng 10 so với con số tương ứng ở thời điểm cuối năm 2012. Tuy nhiên, hai cách tính sử dụng hai giá trị tín dụng khác nhau ở thời điểm cuối năm 2012. Cụ thể, cách tính (2) đã loại trừ các khoản tín dụng xấu, mà các tổ chức tín dụng đã trích lập dự phòng hoặc bán cho VAMC trong 10 tháng vừa qua, ra khỏi tổng giá trị tín dụng tại thời điểm cuối năm 2012. Cái kì lạ của cách tính (2) này là nó mặc nhiên xoá bỏ một khoản tín dụng đang tồn tại. Khi một khoản nợ xấu của doanh nghiệp được chuyển từ NHTM qua VAMC (một công ty con của NHNN), thì nó cũng tương đương với việc VAMC/NHNN đang thay thế NHTM cho doanh nghiệp vay trực tiếp. Khoản tín dụng xấu đó được đưa ra khỏi bảng cân đối của NHTM chứ không biến mất khỏi nền kinh tế.

Cách tính này làm rắc rối thêm các chỉ tiêu thống kê vốn đã kém tin cậy và có thể làm những người tham gia thị trường hiểu sai về diễn biến của kinh tế Việt Nam.

Thống đốc tự tin rằng có NHNN có thể đạt được kế hoạch tăng trưởng tín dụng 12% trong năm 2013, và tôi tin NHNN có thể làm hơn thế bằng những cách sau:

  1. Cách đơn giản nhất là dùng VAMC mua lại nợ xấu từ các NHTM. Làm càng nhanh càng tốt nếu không muốn để dành cho năm 2014. Với cách làm này thì hệ thống NHTM không cần tạo thêm  ra các khoản tín dụng mới mà chỉ cần xoá bỏ các khoản tín dụng xấu trong quá khứ bằng cách chuyển qua cho VAMC.
  2. Cách đơn giản thứ hai là phối hợp với Bộ Tài chính phát hành trái phiếu chính phủ (75 nghìn tỉ còn dư + với 170 nghìn tỉ mới được Quốc hội phê duyệt). Tức là đẩy tín dụng qua kênh TPCP.  Từ nợ xấu chuyển thành trái phiếu VAMC (lãi suất 0%), tiếp theo là thế chấp tại NHNN để lấy khoảng 70% giá trị, cuối cùng là mua TPCP hưởng lãi suất khoảng 9% thì không có NHTM nào lại từ chối.
  3. Cách cuối cùng khó nhất đó là thúc đẩy tăng trưởng tín dụng qua các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Kế hoạch 12% hay thậm chí là 15% có thể đạt được, tuy nhiên nó không có nghĩa là triển vọng kinh tế đang tốt lên nếu chưa bóc tách được trong tổng tín dụng đó có bao nhiêu là đóng góp từ việc mua nợ của VAMC; bao nhiêu là tín dụng TPCP và; bao nhiêu là xuất phát từ việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. 

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

Ai lo chuyện an sinh xã hội?

Trong bất kì nền kinh tế nào, muốn công tác an sinh xã hội tốt thì nền kinh tế đó phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm (vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ) để tạo ra nhiều hàng hoá và dịch vụ nhất, hay nói cách khác là phải tạo ra nhiều thu nhập nhất. Nếu nền kinh tế không tạo ra được thu nhập thì nhà nước sẽ không có gì để mà điều tiết/tái phân phối thu nhập hay thực hiện công tác an sinh giữa các thành viên trong xã hội. Do vậy, thành phần kinh tế nào hoạt động hiệu quả hơn thì phải tạo điều kiện cho nó phát triển. Thành phần kinh tế nào hoạt động kém hiệu quả thì không nên ưu đãi, ngoan cố duy trì nó. Kinh tế thị trường sẽ tự sàng lọc những thành phần kinh tế yếu kém, giữ lại những thành phần kinh tế hiệu quả. Nguyên tắc ở đây là nhà nước phải tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Công tác an sinh xã hội sẽ được thực hiện một cách tốt nhất dựa trên nền tảng một nền kinh tế hoạt động hiệu quả chứ không phải dựa trên việc giữ kinh tế nhà nước hay DNNN làm chủ đạo.

Bài đăng trên thesaigontimes

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Do đầu tư phát triển?

Quốc hội hôm nay mổ xẻ các vấn đề liên quan đến gói trái phiếu cần phát hành thêm theo như đề xuất của Chính phủ. Các ý kiến hầu hết tập trung vào các vấn đề như lập danh sách các công trình ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư, chống thất thoát, v.v. Tuy nhiên, như thế có lẽ là chưa đủ.

Việc xin phát hành TPCP với lý do để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng nghe có vẻ hợp lý và Quốc hội khó mà từ chối. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng nguyên nhân của việc “vỡ kế hoạch” phát hành TPCP trong hai năm qua không phải là do đầu tư công tiếp tục tăng tràn lan, mà là do chúng ta không kiểm soát được chi thường xuyên. Hậu quả là phần lớn thu ngân sách đã được dùng để chi thường xuyên/tiêu dùng mà không phục vụ đầu tư phát triển.

Cụ thể, theo Quyết toán NSNN của Bộ Tài chính, trong năm 2011, tổng chi thường xuyên có quy mô gấp 2,4 lần chi đầu tư phát triển và tăng gần 24% so với năm 2010. Trong năm 2012, tổng chi thường xuyên thậm chí còn tăng nhanh hơn, có quy mô gấp 3,4 lần chi đầu tư phát triển và tăng xấp xỉ 32% so với năm 2011. Như vậy, trong khi chúng ta có thể khống chế chi đầu tư phát triển thông qua việc cắt giảm, tạm dừng thực hiện các dự án đầu tư thì lại không có các ràng buộc/kỉ luật ngân sách với chi thường xuyên.

Do vậy, cần phải thấy rằng số tiền huy động sắp tới từ việc phát hành thêm TPCP có thể sẽ được dùng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, tuy nhiên nguyên nhân của việc phải phát hành thêm này là do Chính phủ không kiểm soát được chi thường xuyên. Nếu điều này tiếp tục diễn ra, các đề xuất phát hành thêm TPCP sẽ còn xuất hiện; bộ máy đảng/nhà nước và số lượng công chức tiếp tục phình to; các phong trào/lễ kỉ niệm học tập/noi gương nhân dịp x năm ngày mất, y năm ngày sinh,.. của ông a, cụ b, anh c, chị d,… vẫn sẽ còn nhiều.

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

Bao giờ thì xin tiếp?

Vneconomy đưa tin.
Theo kế hoạch trước đây, Chính phủ được Quốc hội phê duyệt phát hành 225 nghìn tỉ đồng TPCP cho giai đoạn 2012-2015. Lưu ý rằng đây là phát hành "thêm", tức là cái nào hiện đang lưu hành mà đáo hạn thì chính phủ được phép phát hành bù, không tính vào con số 225 nghìn tỉ kể trên. Tuy nhiên, đến giữa năm 2013 thì chúng ta đã tiêu nhẻm gần hết kế hoạch được giao, chỉ còn lại 75 nghìn tỉ đồng. Với mức thâm hụt ngân sách mỗi năm khoảng 5% GDP thì con số 75 nghìn tỉ này chỉ còn đủ dùng khoảng vài tháng nữa trước khi Chính phủ Việt Nam rơi vào tình trạng ngừng hoạt động giống xứ cờ hoa gần đây (Có làm thế không nhỉ?).

Sau khi mặc cả (để tránh chạm trần nợ công 65% GDP vào năm 2015) với Uỷ ban Thường vụ QH, từ xin phát hành thêm hơn 400 nghìn xuống còn 285 nghìn, và giờ chốt lại Bộ KH&ĐT trình ra QH là 170 nghìn tỉ đồng. Cộng với 75 nghìn tỉ còn lại thì tổng cộng Chính phủ sẽ có 245 nghìn tỉ đồng TPCP cho giai đoạn 2014-2016, tương đương 8% GDP của năm 2012. Nếu đem số này mà trả nợ đọng xây dựng cơ bản của các địa phương, khoảng 91 nghìn tỉ đồng, thì con số còn lại chả đáng bao nhiêu. Xem ra với đà chi tiêu hiện nay, nhiều khả năng giữa năm 2015 Chính phủ sẽ phải xin in thêm trái phiếu một lần nữa.

Tôi hiểu rằng ông Vinh đang cố gắng biện hộ để thuyết phục các ông nghị bấm nút thông qua nhưng nói “việc phát hành trái phiếu Chính phủ không làm tăng tổng lượng tiền trong lưu thông, nên cơ bản không ảnh hưởng đến mặt bằng giá” là không đúng. Thứ nhất, bất kì khi nào chi tiêu chính phủ tăng thì sẽ ít nhiều làm tăng giá trừ phi chi tiêu của khu vực tư nhân giảm đúng bằng lượng gia tăng của chi tiêu chính phủ (full crowding out). Nếu điều đó xảy ra thì dưới góc độ tổng thể nền kinh tế, việc tăng chi tiêu công là vô nghĩa vì nó không giúp tạo ra sản lượng và việc làm.

Thứ hai, giá cả sẽ tăng một cách tồi tệ hơn nếu lượng TPCP phát hành thêm ở trên cuối cùng lại nằm ở ngăn kéo của Ngân hàng Nhà nước - một điều thường thấy ở Việt Nam khi số TPCP này chủ yếu được mua bởi các tổ chức tín dụng và sau đó được họ đem thế chấp qua cửa sổ chiết khấu hoặc qua hoạt động thì trường mở.

Thị trường tài chính có thể sẽ phản ứng tích cực. Tuy nhiên, nếu chưa nhìn thấy tương lai ổn định lâu dài của nền kinh tế, những ngày vui sẽ chẳng thể kéo dài.

Giới thiệu một số bài viết gần đây






4. Thâm hụt ngân sách, nợ công và rủi ro vĩ mô ở Việt Nam

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Giới thiệu sách: Phân tích chuỗi thời gian



Cuốn sách này được biên soạn dựa trên bài giảng chi tiết của môn học “Kinh tế lượng ứng dụng” mà tôi bắt đầu thực hiện giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành kinh tế học của trường Đại học Kinh tế Quốc dân kể từ năm 2008. Mục đích của cuốn sách là cung cấp cho bạn đọc những khái niệm và kĩ thuật cơ bản liên quan đến phân tích chuỗi thời gian trong kinh tế, kinh doanh và trong các ngành khoa học xã hội khác. Cuốn sách được viết theo cách tiếp cận bắt đầu với các mô hình lý thuyết, sau đó là các ứng dụng của chúng sử dụng các chuỗi thời gian có thật trong các nền kinh tế khác nhau. Mặc dù các kĩ thuật phân tích có thể được áp dụng với cả lĩnh vực vi mô lẫn vĩ mô, tuy nhiên các ví dụ minh hoạ trong cuốn sách chủ yếu liên quan đến các chuỗi thời gian trong kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính.

Để giúp bạn đọc có thể tự nghiên cứu và thực hành, cuốn sách cố gắng thực hiện các biến đổi và chứng minh toán theo từng bước chi tiết. Tuy nhiên, bạn đọc được giả định là đã trải qua các khoá học về đại số tuyến tính, thống kê và kinh tế lượng căn bản ở cấp bậc đại học. Các ví dụ ứng dụng trình bày trong cuốn sách được thực hiện với phần mềm kinh tế lượng Eviews với các thao tác được mô tả chi tiết. Ngoài ra, bạn đọc cũng có thể tự thực hành với các phần mềm kinh tế lượng phổ biến khác như Stata hay Microfit.

Cuốn sách được chia làm 6 chương, đi từ các chủ đề đơn giản đến phức tạp. Nội dung của cuốn sách được thiết kế phù hợp với đào tạo ở cấp bậc đại học và sau đại học, hoặc tương đương, của các chuyên ngành kinh tế và tài chính. Các tài liệu đi kèm với cuốn sách bao gồm bài giảng và số liệu thực hành ở mỗi ví dụ được đăng tải trên cổng thông tin điện tử tại đây để bạn đọc có thể tải về thực hành. Với lần đầu được xuất bản, cuốn sách có thể không tránh khỏi các sai sót nhất định. Mọi ý kiến đóng góp của bạn đọc xin vui lòng gửi về hòm thư điện tử của tác giả tại pham.theanh@yahoo.com.

------------
Bạn đọc có thể xem mục lục chi tiết và lời giới thiệu từng chương ở trang điện tử trên của cuốn sách.
Sách được bán duy nhất tại:
Phòng 4.4, Nhà 10, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Điện thoại: 04 36280280 - Máy lẻ: 5168

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Vì sao lại cần hơn các chính sách trọng cung?

TBKTSG đồng thời cũng cho đăng các luận điểm bảo vệ ý kiến "cần hơn các chính sách trọng" của tôi trong số báo ngày hôm nay 2/5/2013. Tôi đăng lại bài này ở đây để bạn đọc tiện theo dõi. Bạn đọc có thể đăng kí tài khoản miễn phí với TBKTSG để đọc bài ở trang 22 tại http://www.thesaigontimes.vn/epaper2010/TB-KTSG/860/).
-----------------------
              VÌ SAO LẠI CẦN HƠN CÁC CHÍNH SÁCH TRỌNG CUNG?
                                                                                     Phạm Thế Anh
Như tiêu đề của bài báo đã chỉ ra “Cần hơn các chính sách trọng cung”, trước tiên chúng tôi xin nhắc lại thông điệp chính của bài viết đăng trên TBKTSG số ra ngày 4-4-2013 đó là kinh tế Việt Nam hiện nay cần chú trọng hơn vào các chính sách trọng cung chứ không phủ nhận các lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý tổng cầu trong lịch sử kinh tế thế giới.

Có thể nói một cách khái quát rằng, lý thuyết trọng cung và lý thuyết quản lý tổng cầu là hai nhánh chính trong kinh tế học. Mỗi chính sách thuộc một trong hai lý thuyết này, một khi được thiết kế phù hợp và thực thi đúng thời điểm, sẽ giúp các nền kinh tế đạt được các mục tiêu mà chúng theo đuổi. Vai trò của các chính sách quản lý tổng cầu là không thể phủ nhận trong việc giúp kinh tế thế giới tránh được những hậu quả nặng nề của một cuộc đại suy thoái trong giai đoạn 2008– nay. Hay xa hơn, sự phản ứng sai lầm của chính sách tiền tệ và chậm trễ của chính sách tài khoá đã khiến kinh tế thế giới chìm đắm vào cuộc đại suy thoái kéo dài cả thập kỉ 30 của thế kỉ trước. Ngược lại, các chính sách quản lý tổng cầu lại không giải quyết được tình trạng đình trệ sản xuất và lạm phát cao của những năm 1970s. Trong khi đó, việc chuyển mạnh sang các chính sách trọng cung, bao gồm giảm các loại thuế phí, dỡ bỏ các rào cản thương mại, dỡ bỏ các chính sách điều tiết ngành và tư nhân hoá các DNNN, ưu đãi thuế cho các cá nhân và doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ, giáo dục đại học và đào tạo nghề, v.v. từ đầu những năm 1980s lại giúp cho các nền kinh tế phát triển (Anh, Mỹ, Pháp,…) cũng như đang phát triển (Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Bra-xin,…) đạt được quãng thời gian tăng trưởng cao và gần như liên tục cho tới trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008–2009 xảy ra.

Quay trở lại kinh tế Việt Nam, những năm gần đây chúng ta thường lạm dụng các chính sách quản lý tổng cầu, bao gồm cả mở rộng tài khoá và tiền tệ. Sự gia tăng mạnh và liên tục của tổng cầu thông qua đầu tư công, chi tiêu NSNN và cung tiền M2, nhưng lại thiếu những biện pháp tập trung cải thiện tổng cung tiềm năng, đã khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ngày càng thấp đi. Khi tổng cung không được cải thiện tương xứng với tổng cầu, các loại giá cả bao gồm từ giá tiêu dùng, tiền lương, đến lãi suất và giá các loại tài sản đã tăng mạnh, kéo theo làn sóng đầu cơ và bất ổn. Tuy nhiên, thay vì nhìn nhận các vấn đề này là nguyên nhân của các sai lầm về thiết kế và thực thi chính sách quản lý tổng cầu, Chính phủ Việt Nam lại coi đó là những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đồng thời ngày càng gia tăng các biện pháp cưỡng ép hành chính và gọi chúng là “các chính sách bình ổn.”

Để minh chứng cho sự kém hiệu quả của các chính sách quản lý tổng cầu ở Việt Nam gần đây chúng ta có thể nhìn vào các chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2007–2012, tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế trung bình lần lượt là 12,6% và 6,2%, xấu đi đáng kể so với các con số tương ứng 4,9% và 7,6% của giai đoạn 2001–2006. Tức là, tăng trưởng gần đây thấp đi còn lạm phát lại cao hơn. Không chỉ có vậy, giai đoạn 2007–2012 cũng chứng kiến sự bất ổn, đo lường theo độ lệch chuẩn của các biến, tăng gấp đôi so với các con số tương ứng của giai đoạn trước đó. Điều này hàm ý, doanh nghiệp và người dân Việt Nam những năm gần đây đang sống trong một môi trường kinh tế bất ổn/tăng giảm thất thường hơn so với khoảng chục năm trước đây. Nguyên nhân của sự suy giảm kinh tế và bất ổn gia tăng này có lẽ có sự góp phần không nhỏ của các chính sách mở rộng tổng cầu thái quá với tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán M2 trung bình trên 26%/năm, và tăng trưởng chi tiêu NSNN là khoảng xấp xỉ 20%/năm. Đặc biệt, trong giai đoạn 2007–2012, các chính sách vĩ mô của Việt Nam cũng thay đổi khó lường hơn, với độ lệch chuẩn của tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng chi NSNN lần lượt là 9,3% và 9,6%, so với các con số 3,0% và 4,9% tương ứng của giai đoạn 2001–2006.
 
Có thể nói, chính sách kích thích tổng cầu của Việt Nam trong những năm vừa qua đã mắc sai lầm ngay từ khâu thiết kế, đến thực thi, giám sát và thời điểm cần kết thúc. Thay vì phải hướng trọng tâm chính sách vào kích thích đầu tư tư nhân và xuất khẩu thì nó lại thiên về mở rộng đầu tư công thông qua hệ thống các DNNN và chi tiêu ngân sách. Mỗi năm có hàng trăm ngàn tỉ đồng trái phiếu chính phủ (TPCP) và TPCP bảo lãnh được phát hành (Theo HNX năm 2012 là 167 ngàn tỉ đồng) để tài trợ cho chi tiêu của khu vực công. Các tổ chức tín dụng, thay vì hướng nguồn vốn nhàn rỗi đến các doanh nghiệp tư nhân bằng cách hạ lãi suất thì lại đổ tiền vào TPCP với lãi suất cao (và gần đây là cả vào vàng). Do vậy, lãi suất cho vay vẫn tiếp tục cao ngất ngưởng bất chấp áp lực lạm phát giảm, sản xuất đình trệ và những nỗ lực cắt giảm lãi suất hành chính của NHNN.

Ngoài ra, hậu quả của các chính sách kích thích tổng cầu hướng vào hệ thống DNNN kém hiệu quả và thiếu giam sát đã để lại cả một núi nợ xấu của khu vực này cho hệ thống ngân hàng. Quy mô kích cầu thái quá và kéo dài cũng đã khiến sản xuất của nền kinh tế lệch lạc vào những ngành nghề mang tính đầu cơ cao kém bền vững. Hậu quả là, gánh nặng nợ công, nếu tính cả nợ của hệ thống DNNN, đã xấp xỉ bằng với quy mô GDP của cả nền kinh tế.

Chính sách quản lý tổng cầu, nếu cần chú trọng, phải là những chính sách theo định hướng thay đổi cấu phần của tổng cầu chứ dứt khoát không phải là kích thích chi tiêu công hay tăng trưởng cung tiền thêm nữa. Chi tiêu công cần phải được cắt giảm để tạo cơ hội cho lãi suất giảm, từ đó đầu tư tư nhân sẽ tăng. Thuế phí phải được hạn chế, đồng thời tăng trưởng cung tiền phải được giữ ở mức thấp nhằm kiềm chế lạm phát, tạo tiền đề cho sức mua của khu vực tư nhân tăng trở lại.

Một số ý kiến cá nhân cho rằng, song hành với những thành tựu kinh tế đạt được trong hai thập kỉ qua là dấu vết can thiệp sâu rộng hơn (quy mô chi tiêu lớn hơn) của Chính phủ để rút ra kết luận rằng những thành tựu kinh tế đó là nhờ chi tiêu chính phủ là rất thiếu cơ sở. Thứ nhất, lập luận này không dựa trên việc xác định xem quy mô tối ưu của Chính phủ là bao nhiêu đối với tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới hầu hết chỉ ra rằng quy mô tối ưu này là không quá 25% GDP (trong khi ở Việt Nam chi NSNN trung bình trong 5 năm qua, chưa kể chi của DNNN, đã là 38% GDP). Thứ hai, khi kinh tế và chi tiêu công cùng tăng thì không có nghĩa chi tiêu công là nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế. Câu hỏi nghi vấn phù hợp nhất đặt ra ở đây phải là liệu tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn, hay thấp hơn, nếu chính phủ giảm sự can thiệp của mình vào nền kinh tế. Trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, phân tích thực nghiệm của chúng tôi đưa ra câu trả lời là tăng trưởng sẽ cao và ổn định hơn. 

Đã 5 năm đã trôi qua kể từ khi kinh tế bắt đầu suy giảm, các chương trình tái cơ cấu luôn được nhắc đến trong các chương trình nghị sự của Quốc hội cũng như Chính phủ. Tuy nhiên, chúng tôi chưa nhận thấy một chính sách cụ thể nào được thực hiện để cải thiện năng lực sản xuất của nền kinh tế. Năng suất của nền kinh tế và các điều kiện để cải thiện nó vẫn giậm chân tại chỗ và ngày càng tụt hậu so với các nước trong khu vực. Chính vì thế, chúng tôi cho rằng đã tới thời điểm Việt Nam cần phải chú trọng hơn tới các chính sách trọng cung. Đây chính là thông điệp chính của cuốn sách Kinh tế Việt Nam: Từ chính sách bình ổn tổng cầu sang chính sách trọng cung để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn mới được chúng tôi hoàn thành.